Thứ năm, 13/01/2022, 09:36 AM
  • Click để copy

Hoạt động kinh doanh du lịch dưới góc nhìn của chuyên gia về tài chính và thuế

Dù đã có các gói giải pháp về gia hạn, miễn giảm thuế, phí... trong năm 2020, 2021 đối với hoạt động du lịch và một số ngành nghề có liên quan trực tiếp đến du lịch như vận tải hàng không, khách sạn, lưu trú... nhưng ngành du lịch vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức.

Chủ đề: Du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển

Lời toà soạn: Là sự kiện lớn của ngành du lịch, Hội thảo Du lịch Việt Nam 2021 thành công với nhiều ý kiến trao đổi, đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 đến ngành du lịch, cơ hội và thách thức đặt ra đối với du lịch Việt Nam giai đoạn “hậu Covid”.

Diễn ra trong 1 ngày, bên cạnh những ý kiến trao đổi, tham luận tại Hội thảo, còn có nhiều kiến giải, góc nhìn có giá trị được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, các hiệp hội, doanh nghiệp du lịch gửi tới.

Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới độc giả chuyên đề "Du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển" là tập hợp các phát biểu, tham luận, bài viết trong tài liệu hội thảo do ban biên tập nội dung của Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục của Quốc hội phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện.

Dưới đây là phần đầu của bài viết CHÍNH SÁCH VỀ TÀI CHÍNH, THUẾ, HẢI QUAN NHẰM HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP DU LỊCH PHỤC HỒI SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 của bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục thuế liên quan đến Thực trạng chính sách thuế, phí, hải quan liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch.

CHÍNH SÁCH VỀ TÀI CHÍNH, THUẾ, HẢI QUAN NHẰM HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP DU LỊCH PHỤC HỒI SAU ĐẠI DỊCH COVID-19

Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục thuế

Tóm tắt: Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp không chỉ đối với nước ta mà cả trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế du lịch ngày càng phát triển và trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thì nhu cầu đi du lịch, thăm thú những danh lam thắng cảnh, tìm hiểu nền văn hóa, nghệ thuật của các quốc gia, vùng lãnh thổ càng phát triển. Ngay tại Việt Nam, khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, đời sống người dân dần được cải thiện thì nhu cầu du dịch cũng tăng theo.

Bức tranh toàn cảnh về du lịch không chỉ phản ánh hình ảnh, bộ mặt của một đất nước mà còn có vị thế quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua hàng loạt các vấn đề liên quan: giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, quảng bá hình ảnh Việt nam với bạn bè quốc tế, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, đóng góp nguồn thu cho NSNN (ngành du lịch đóng góp một phần không nhỏ vào GDP cả nước). Trong thập niên qua, ngành du lịch nước nhà phát triển tương đối ổn định, nhanh. Riêng năm 2019, ngành du lịch chiếm khoảng 12% GDP cả nước, lượng du khách quốc tế ổn định và có xu hướng tăng trưởng tốt.

Tuy nhiên, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tác động xấu đến kinh tế - xã hội của thế giới cũng như ở Việt Nam, trong đó, Du lịch là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Mặc dù Quốc hội, Chính phủ đã có các gói giải pháp về gia hạn, miễn giảm thuế, phí... trong năm 2020, 2021 đối với hoạt động du lịch và một số ngành nghề có liên quan trực tiếp đến du lịch như vận tải hàng không, khách sạn, lưu trú... nhưng ngành du lịch vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức.

Trong phạm vi bài tham luận này chúng tôi muốn đánh giá chính sách tài chính hiện hành để từ đó đề xuất các giải pháp về chính sách tài chính, thuế, hải quan nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch phục hồi, phát triển sau đại dịch COVID-19.

Từ khóa: COVID-19, phát triển du lịch, hoàn thuế GTGT, phí phục vụ ngành du lịch, miễn giảm thuế, tài chính.

Ảnh minh hoạ: haiquanonline.

Ảnh minh hoạ: haiquanonline.

1. Thực trạng chính sách thuế, phí, hải quan liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch

1.1. Chính sách thuế giá trị gia tăng

Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, Luật phí và lệ phí và các khoản thu về đất, các doanh nghiệp, doanh nhân, hộ, cá nhân hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch có nghĩa vụ thực hiện kê khai nộp thuế, phí, các khoản thu vào NSNN theo quy định của pháp luật tương ứng.

Trước hết về thuế GTGT: Luật thuế Gia trị gia tăng đầu tiên số 57/1997/L- CTN, ngày 10/5/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 đã quy định mức thuế suất cao nhất là 20% đối với hoạt động kinh doanh khách sạn, du lịch, ăn uống (liên quan đến kinh doanh dịch vụ du lịch) cùng với 4 nhóm hàng hóa dịch vụ khác:

- Vàng, bạc, đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào, bán ra.

- Xổ số kiến thiết và các loại hình xổ số khác.

- Đại lý tàu biển.

- Dịch vụ môi giới.

Tại thời điểm này, chính sách thuế ưu tiên cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, mức độ thiết yếu của hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho đời sống nhân dân và nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước để đưa ra mức độ điều tiết thuế theo các nhóm thuế suất khác nhau. Theo đó có 5 nhóm hàng có thuế suất cao nhất là 20%, bao gồm cả kinh doanh du lịch. Có thể thấy thời kỳ này hoạt động du lịch được đưa vào nhóm cần điều tiết cao, với nhận định sản phẩm dịch vụ du lịch là dịch vụ cao cấp, phục vụ những người có mức thu nhập tương đối cao, chưa thực sự cần thiết đối với nhu cầu của nhân dân và kinh tế nước nhà nói chung. Ngoài mức thuế suất thuế GTGT cao 20 %, còn có thuế suất phổ thông 10%, thuế suất ưu đãi 5%. Bên cạnh đó còn có 25 nhóm sản phẩm không chịu thuế GTGT (không nộp thuế GTGT đầu ra, nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào) và thuế suất 0% (không nộp thuế GTGT đầu ra, nhưng được khấu trừ hoàn thuế GTGT đầu vào) áp dụng đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu.

Tuy nhiên Luật thuế GTGT đến ngày 01/01/1999 mới có hiệu lực thi hành thì cuôc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng như khủng hoảng tài chính châu Á từ tháng 7/1997 kéo dài sang cả năm 1998 đã ảnh hưởng đến Việt Nam trầm trọng. Theo đó, thuế suất 20% chưa áp dụng, Chính phủ đã trình Quốc hội cho điều chỉnh nhóm thuế suất thuế GTGT từ 20% xuống 10%.

Như vậy, từ ngày 01/01/1999 đến nay; đối với các đơn vị nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, thì áp dụng mức thuế suất thuế GTGT là 10% trên doanh thu tính thuế (giá tính thuế). Giá tính thuế GTGT đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Khoản phí thu thêm của các đơn vị kinh doanh trong ngành du lịch chính là phí phục vụ mà các đơn vị được phép thu không quá 5% trên giá bán các dịch do mình cung cấp, bao gồm: lữ hành, vận chuyển khách, khách sạn, vui chơi giải trí...

Đối với các đơn vị nộp thuế theo phương pháp trực tiếp thì áp dụng thuế GTGT 5% trên doanh thu. Cụ thể, các dịch vụ: cung cấp cơ sở lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai khác; cung cấp cả cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống và/hoặc các phương tiện giải trí; dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, vũ trường, bi- a, internet, game; dịch vụ khác.

1.2. Chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế khi xuất cảnh

Trong Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT được ban hành lần đầu tiên (trước ngày 31/12/2013) chưa quy định việc

hoàn thuế GTGT đối với khách nước ngoài vào Việt nam, mua hàng hóa tại Việt nam để mang về nước khi xuất cảnh. Nhằm khuyến khích khách du lịch tăng chi tiêu mua sắm hàng hóa tại Việt Nam, đồng thời trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm quốc tế; Quốc hội đã ban hành Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, bổ sung quy định:

“Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh”.

Căn cứ vào Luật thuế GTGT, Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật của Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 72/2014/TT-BTC ngày 30/5/2014 quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh và Thông tư số: 92/2019/TT-BTC ngày 31/12/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 72/2014/TT-BTC. Hệ thống quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài là hệ thống tích hợp, lưu trữ, trao đổi thông tin liên quan đến việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định tại Thông tư trên do Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành. Theo đó người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ thành viên của Tổ bay theo quy định của pháp luật về hàng không, thành viên của Đoàn thủy thủ theo quy định của pháp luật về hàng hải mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập, xuất cảnh do nước ngoài cấp còn giá trị và sử dụng giấy tờ đó để nhập, xuất cảnh Việt Nam, mua hàng hóa tại Việt Nam và mang theo hàng hóa ra nước ngoài qua các cửa khẩu được hoàn thuế.

Tuy nhiên, thủ tục hoàn thuế khi xuất cảnh chưa thực sự thuận lợi cho khách du lịch. Muốn được hoàn thuế khách du lịch phải mua hàng tại các doanh nghiệp được lựa chọn bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài xuất cảnh; việc hoàn thuế không được thực hiện tại nơi mua hàng, thông qua hình thức hoàn thuế theo cách giảm giá bán mà trước khi xuất cảnh mới được làm thủ tục kê khai, hoàn thuế GTGT cho hàng mang theo người. Địa điểm kiểm tra hàng hóa, hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế được đặt trong khu vực làm thủ tục gửi hành lý và/ hoặc khu vực kiểm tra thẻ lên tàu bay/tàu biển. Địa điểm trả tiền hoàn thuế giá trị gia tăng do các ngân hàng thương mại làm đại lý hoàn thuế cũng đặt tại khu vực cách ly sân bay, cảng biển quốc tế. Do thủ tục hoàn thuế diễn ra trước khi xuất cảnh, nên khách hàng thường phải vội vàng, một số trường hợp vì thiếu thời gian, sợ nhỡ chuyến bay, khách du dịch không lấy được tiền hoàn thuế.

Cụ thể, quy trình hoàn thuế với hàng xuất cảnh của du khách nước ngoài hiện hành được thực hiện theo quy định của pháp luật như sau: khi mua hàng tại công ty, chi nhánh được chỉ định bán hàng được hoàn thuế, khách du lịch xuất trình hộ chiếu, giấy tờ nhập, xuất cảnh cho doanh nghiệp bán hàng. Căn cứ các thông tin trên hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập, xuất cảnh và giá trị và hàng hóa được mua, doanh nghiệp bán hàng lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế cho hàng hóa theo quy định, doanh nghiệp truyền các thông tin về hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo cho cơ quan hải quan, đồng thời in hóa đơn và giao cho người nước ngoài.

Du khách mang hàng kèm theo hóa đơn chứng từ do doanh nghiệp bán hàng cung cấp, cùng hàng hóa đã mua đến sân bay, bến cảng làm thủ tục hải quan trước khi xuất cảnh về nước. Du khách nộp hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế và xuất trình hàng hóa chậm nhất 30 phút để cơ quan hải quan kiểm tra trước khi tàu bay/tàu biển khởi hành. Cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa tại quầy kiểm tra hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế, hàng hóa; đối chiếu xác định từng nội dung khớp đúng giữa thông tin ghi trên hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập xuất cảnh với thông tin trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế; kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa phải kiểm tra thực tế theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Sau khi kiểm tra chứng từ, hàng hóa, cán bộ hải quan ghi kết quả kiểm tra, đóng dấu đồng ý hoàn thuế hay từ chối hoàn thuế. Trường hợp cơ quan hải quan đồng ý hoàn thuế thì xác định mặt hàng, tính số tiền thuế giá trị gia tăng người nước ngoài thực tế được hoàn theo quy định.

Khi có kết luận của cơ quan Hải quan đồng ý hoàn thuế và xác định số tiền được hoàn, du khách mang hồ sơ hoàn thuế đến ngân hàng thương mại được lựa chọn ủy quyền hoàn thuế để lấy tiền thuế được hoàn trả. Việc lựa chon ngân hàng làm đại lý hoàn trên cơ sở được Tổng cục Hải quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị của ngân hàng thương mại, trình Bộ Tài chính xem xét quyết định ngân hàng được lựa chọn.

Ngân hàng thương mại thực hiện kiểm tra thẻ lên tàu bay/tàu biển; hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế; kiểm tra trên hệ thống thông tin về người xuất cảnh, hàng hóa, xác nhận đồng ý hoàn thuế của cơ quan hải quan và số thuế được hoàn.

Trường hợp thông tin về tên hành khách trên thẻ lên tàu bay tàu biển không đúng với thông tin trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đã được cơ quan hải quan kiểm tra, xác nhận thì ngân hàng thương mại trao đổi, xác minh với cơ quan hải quan. Trường hợp, thông tin trao đổi với cơ quan hải quan không khớp đúng với thông tin trên thẻ lên tàu bay/tàu biển thì ngân hàng thương mại từ chối hoàn thuế và thông báo trên Hệ thống để cơ quan hải quan biết. Trường hợp đầy đủ, đúng thông tin thì ngân hàng thương mại trả tiền hoàn thuế cho du khách nước ngoài bằng tiền mặt hoặc qua thẻ quốc tế theo số tiền thuế giá trị gia tăng du khách thực tế được hoàn do cơ quan hải quan tỉnh ghi trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế.

1.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với hộ, cá nhân kinh doanh du lịch

Đối với tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch: ngay từ khi có Luật thuế TNDN thì hoạt động kinh doanh du lịch áp dụng thuế suất thuế TNDN theo mức thuế suất phổ thông (hiện hành là thuế suất 20%) không được áp dụng thuế suất ưu đãi theo lĩnh vực hoạt động như một số ngành nghề khác.

Theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành thì những lĩnh vực sau được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10 % cho suốt đời hoạt động (trừ khi Luật thuế có quy định thuế suất thấp hơn), đó là:

- Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường;

- Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với các đối tượng quy định tại Điều 53 của Luật Nhà ở;

- Thu nhập của cơ quan báo chí từ hoạt động báo in, kể cả quảng cáo trên báo in theo quy định của Luật Báo chí; thu nhập của cơ quan xuất bản từ hoạt động xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản;

- Thu nhập của doanh nghiệp từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; nuôi trồng nông, lâm, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm...

Bên cạnh đó các quy định về giảm thuế TNDN do sử dụng nhiều lao động nói chung, lao động nữ nói riêng cũng chỉ áp dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xản xuất, xây dựng, vận tải; không áp dụng cho kinh doanh dịch vụ, thương mại trong đó có kinh doanh du lịch. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực du lịch thì nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 2% trên doanh thu.

1.4. Một số nội dung về cơ chế tài chính liên quan đến phí phục vụ ngành du lịch

Phí phục vụ là khoản tiền trả thêm ngoài giá dịch vụ đã quy định nhưng được cộng vào tổng số tiền dịch vụ mà khách hàng thực trả. Đơn vị phải hạch toán riêng khoản tiền phí phục vụ, giá dịch vụ, hàng hoá ngay trên từng hoá đơn dịch vụ và kê khai nộp thuế theo quy định. Một số người còn lẫn lỗn giữa phí phục vụ và tiền “Tip”. Thực tế hai khoản này rất khác nhau: phí phục vụ là quy định bắt buộc được ghi vào hóa đơn khách hàng phải trả, nhưng Tip là một khoản tiền mà khách hàng tự nguyện thưởng cho người phục vụ. Số tiền thưởng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức độ hài lòng cũng như khả năng của khách hàng và nó không phải là khoản tiền bắt buộc.

Phí phục vụ trong ngành du lịch là khoản tiền thưởng cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn do chất lượng phục vụ tốt, đồng thời cũng là biểu hiện thiện cảm của người được phục vụ về thái độ phục vụ của các nhân viên phục vụ. Thu phí này đã trở thành thông lệ quốc tế nhằm huyến khích nhân viên nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.

Phí phục vụ ngành du lịch ở nước ta đã được áp dụng từ năm 1980. Trên cơ sở Thông báo số 2815V7 ngày 02/7/1980 của Văn phòng Thủ tướng (Văn phòng chính phủ hiện nay) thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép ngành du lịch Việt Nam được thu của khách nước ngoài về chi phí phục vụ 10%. Quyết định số 342-CT ngày 09/12/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Quyết định số 4-CT ngày 03/01/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 6-TC/TCĐN ngày 25/02/1990 của Bộ Tài chính. Từ năm 1991 đến nay, do thực hiện các Luật thuế doanh thu, lợi tức... toàn bộ khoản thu về phí phục vụ phải đưa và doanh thu để tính thuế doanh thu, tuy vậy việc thu và sử dụng khoản phụ phí phục vụ chưa thống nhất, rõ ràng. Nhằm đảm bảo việc thu, sử dụng phí phục vụ trong ngành Du lịch thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế, khuyến khích cán bộ, công nhân viên nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh, đồng thời thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Ngân sách Nhà nước, ngày 27/11/1995 liên Bộ Tài chính - Tổng cục Du lịch đã ban hành Thông tư liên tịch số 88/TTLB hướng dẫn việc thu và sử dụng khoản phí phục vụ ngành du lịch.

Mức thu khoản phí phục vụ không quá 5% trên giá bán các dịch vụ thuộc phạm được phép thu phí. Phí phục vụ là khoản tiền trả thêm ngoài giá dịch vụ đã quy định nhưng được cộng vào tổng số tiền dịch vụ mà khách hàng thực trả. Đơn vị phải hạch toán riêng khoản tiền phí phục vụ, giá dịch vụ, hàng hoá ngay trên từng hoá đơn dịch vụ và kê khai nộp thuế doanh thu theo thuế suất của ngành nghề kinh doanh. Phí dịch vụ có thể được chi cho việc tham quan học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ và chi cải thiện điều kiện lao động nhưng không quá 50% quỹ lương thực hiện. Khoản chi này được coi là chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp du lịch khi xác định nghĩa vụ thuế với NSNN. Khoản phí dịch vụ thu được sau khi nộp thuế doanh thu theo Luật định được phân phối như sau: được trích để chi thưởng cho các cá nhân, tập thể có chất lượng phục vụ tốt, chi tham xác định lợi tức chịu thuế và không tính vào mức khống chế các quỹ xí nghiệp theo chế độ phân phối lợi nhuận hàng năm. Số tiền còn lại sau khi nộp thuế doanh thu và trích thưởng nói trên, được hạch toán vào thu nhập của đơn vị để xác định lợi tức chịu thuế và nộp thuế lợi tức theo quy định. Riêng đối với đơn vị kinh doanh thua lỗ thì không được trích chi cho các khoản quy định trên mà phải hạch toán chung vào thu nhập để giảm lỗ.

Thông tư liên tịch số 88/TTLB thi hành được hơn 3 năm thì Quốc hội ban hành Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Vì vậy Thông tư liên tịch số 88/TTLB không còn hiệu lực thi hành. Theo đề nghị của Tổng cục Du lịch tại công văn số 498/TCDL-KHĐT ngày 10/5/1999 về việc cho tiếp tục thu khoản phí phục vụ trong ngành du lịch, khi áp dụng Luật thuế GTGT, TNDN. Bộ Tài chính có công văn số: 3952 TC/TCT ngày 11/8/1999 hướng dẫn việc thu và sử dụng khoản phí phục vụ trong ngành du lịch. Nội dung của công văn là đồng ý để các đơn vụ kinh doanh du lịch tiếp tục thu phí phục vụ theo Thông tư liên tịch số 88/TTLB. Từ ngày 1/1/1999 Luật thuế GTGT có hiệu lực, các đơn vị kinh doanh du lịch nếu có thu phí phục vụ phải nộp thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (sau khi đã trừ các khoản chi phí để tạo ra khoản thu này) theo các quy định hiện hành. Khoản thu phí này sau khi nộp 2 loại thuế trên được phân phối như sau:

+ Được trích để chi thưởng cho cá nhân và tập thể có chất lượng phục vụ tốt, chi tham quan học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ và chi cải thiện điều kiện lao động nhưng không quá 50% quỹ lương thực hiện. Khoản chi này không tính vào mức khống chế quỹ khen thưởng và phúc lợi và không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập bổ sung của doanh nghiệp.

+ Số tiền còn lại (nếu có) được trích vào các quỹ doanh nghiệp. Riêng đối với doanh nghiệp bị lỗ không được trích và chi phí phục vụ theo quy định trên mà hạch toán chung vào thu nhập để giảm lỗ.

Tuy nhiên Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 ngày 19/06/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã mở rộng chi phí thực tế. Tiếp đến Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014, có hiệu lực 01/01/2015 bãi bỏ mức chi quảng cáo tiếp thị... nên không còn quy định khoản chi phí phục vụ trong ngành du lịch mà khoản thu phí phục vụ thêm 5% ngoài giá bán sản phẩm, dịch vụ được coi là doanh thu ngành du lịch và tính thuế TNDN bình thường như doanh thu của hoạt động kinh doanh.

(Còn nữa)

* Tiêu đề bài viết do Travelmag đặt.

Bài liên quan

Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
19/01/2022 Nghiên cứu

Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.

Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
19/01/2022 Phân tích

Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...

Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
18/01/2022 Nghiên cứu

Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
17/01/2022 Nghiên cứu

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.

5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.

Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
16/01/2022 Nghiên cứu

Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế

Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.

Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
14/01/2022 Nghiên cứu

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.

Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
14/01/2022 Nghiên cứu

Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.

Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
13/01/2022 Nghiên cứu

Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.

Từ hiệu ứng hang Sơn Đoòng đến việc định hình du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới
Từ hiệu ứng hang Sơn Đoòng đến việc định hình du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới
12/01/2022 Phân tích

Với những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên lịch sử văn hoá thì Việt Nam cần định vị lại vị thế và thế mạnh du lịch của mình, từ đó sẽ dễ dàng quy hoạch và mời gọi các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Những xu hướng du lịch mới có khả năng xuất hiện trong 2022
Những xu hướng du lịch mới có khả năng xuất hiện trong 2022
12/01/2022 Phân tích

Vị TGĐ của Oxalis Adventure cho rằng trong năm 2022, bên cạnh việc xét nghiệm Covid-19 vẫn sẽ được thực hiện như một biện pháp phòng ngừa thì du lịch có ý thức sẽ được khởi động và du lịch xanh cũng sẽ được chú ý.

Thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch Inbound tại Việt Nam
Thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch Inbound tại Việt Nam
12/01/2022 Phân tích

Theo ông Nguyễn Châu Á - Tổng giám đốc Oxalis Adventure, đối với du lịch Inbound tại Việt Nam, khi điểm đến kém hấp dẫn thì đối tác sẽ hướng khách của họ đi du lịch ở địa điểm khác hay quốc gia khác dẫn đến một lỗ hổng rất lớn của điểm đến sau khi mất thị trường trọng yếu.

Năm biện pháp quan trọng để khôi phục du lịch quốc tế
Năm biện pháp quan trọng để khôi phục du lịch quốc tế
11/01/2022 Phân tích

Theo bà Julia Simpson - Chủ tịch, Giám đốc Điều hành, Hội đồng Lữ hành và Du lịch Thế giới, cần có các quy định đơn giản hóa cho những người đi du lịch quốc tế, cho phép công dân đã tiêm vaccine đầy đủ được đi du lịch mà không bị hạn chế.

Khắc phục khó khăn của ngành du lịch do Covid-19 nhìn từ góc độ kế hoạch - đầu tư
Khắc phục khó khăn của ngành du lịch do Covid-19 nhìn từ góc độ kế hoạch - đầu tư
11/01/2022 Thống kê

Theo thống kê, trong năm 2020 - 2021, có đến 95% doanh nghiệp lữ hành phải ngừng hoạt động. Nhiều cơ sở lưu trú cho nhân viên nghỉ việc không lương hoặc chấm dứt hợp đồng với số lượng lên tới 80 - 90%.

Những kinh nghiệm chuyển đổi số trong du lịch của Sun Group
Những kinh nghiệm chuyển đổi số trong du lịch của Sun Group
10/01/2022 Nghiên cứu

Theo vị Trưởng ban Kinh doanh Tập đoàn Sun World, một trong những giải pháp quan trọng nhất đã và đang giúp Tập đoàn Sun Group vượt qua khó khăn, tạo đà vững chắc để bứt tốc trong tương lai chính là chuyển đổi số.

Thế giới ứng dụng chuyển đổi số trong du lịch như thế nào?
Thế giới ứng dụng chuyển đổi số trong du lịch như thế nào?
10/01/2022 Nghiên cứu

Không phải đến khi đại dịch Covid-19 diễn ra, thế giới mới nhận thấy tầm quan trọng của chuyển đổi số trong phát triển du lịch mà nhiều quốc gia đã triển khai chuyển đổi số từ nhiều năm trước đây và tích cực đẩy mạnh ngay khi đại dịch gây ra những thiệt hại nặng nề cho ngành du lịch.

Những thách thức mà du lịch TP. HCM gặp phải
Những thách thức mà du lịch TP. HCM gặp phải
07/01/2022 Nghiên cứu

Ngoài những điểm sáng về thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng cho du lịch, việc phát triển du lịch TP. HCM vẫn còn những tồn tại, hạn chế.