Thứ năm, 31/12/2020, 07:40 AM
  • Click để copy

Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế

Theo TS Vũ Văn Đông, để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch trong hội nhập thì cần đổi mới và không ngừng hoàn thiện khung pháp lý và các chính sách liên quan đến du lịch như chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, xuất nhập cảnh, hải quan theo hướng tạo mọi thuận lợi cho du khách.

Lời giới thiệu: Năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch trong hội nhập quốc tế là tập hợp các yếu tố nguồn lực như tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, các chính sách, thể chế và con người của hoạt động của doanh nghiệp du lịch tạo ra một hình ảnh về sự phát triển du lịch bền vững, có hiệu quả. 

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết "Nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế"  của TS. Vũ Văn Đông - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tác giả cập nhật các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ các nước trong khu vực: Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan để phân tích đánh giá năng lực canh tranh theo mô hình Kim cương của Porter, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch mới xuất hiện trong thời gian gần đây đã và đang thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ giữa các quốc gia trên thế giới trong việc thu hút khách quốc tế. Để hoạt động của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam phát triển góp phần quan trọng vào việc thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam. Khả năng cạnh tranh thu hút khách du lịch quốc tế của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam nói chung còn hạn chế so với nhiều đối thủ trong khu vực. Các doanh nghiệp du lịch về cơ bản còn thiếu chiến lược cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường du lịch nước ngoài, thiếu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm trong công tác thị trường. Nguồn tài chính dành cho hoạt động marketing, quảng cáo ở thị trường nước ngoài của nhiều doanh nghiệp du lịch Việt Nam còn hạn chế.

Cầu Vàng được báo Mỹ vinh danh là một trong những cây cầu đẹp nhất thế giới. (Ảnh: Hien Phung Thu/Shutterstock).

Cầu Vàng được báo Mỹ vinh danh là một trong những cây cầu đẹp nhất thế giới. (Ảnh: Hien Phung Thu/Shutterstock).

Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch để thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết. Các doanh nghiệp du lịch quốc tế của Việt Nam nếu không có đủ năng lực tiếp cận thị trường quốc tế và khu vực, thiếu một chiến lược cạnh tranh linh họat sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ nước ngoài.

2. Cơ sở phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh

Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh hoạt động doanh nghiệp du lịch của Crouch và Ritchie  đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động du lịch bằng 4 chỉ tiêu:

1) Kết quả hoạt động kinh tế;

2) Tính bền vững;

3) Sự hài lòng của khách du lịch;

4) Hoạt động quản lý và sử dụng một số chỉ số dựa trên bốn yếu tố này để xác định khả năng cạnh tranh của hoạt động doanh nghiệp du lịch.

Cụ thể, một số chỉ tiêu như tổng chi tiêu của khách du lịch, tỷ lệ thù lao cho một người lao động trong lĩnh vực du lịch đối với toàn bộ thù lao cho người lao động, sự dễ dàng thành lập doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến du lịch, GDP từ lữ hành và du lịch so với tổng GDP có thể được sử dụng để chỉ ra kết quả hoạt động kinh tế của khu vực này. Tương tự như vậy, bảo tồn sự nguyên vẹn của môi trường sinh thái, khả năng dân cư có thể sử dụng hạ tầng du lịch, mức độ hỗ trợ chính trị đối với các nỗ lực của ngành Du lịch, các khoản thuế thu được từ chi tiêu du lịch có thể được sử dụng để đo sự bền vững. Sự hài lòng của khách du lịch có thể được đánh giá bằng sự hài lòng đối với tất cả chất lượng dịch vụ du lịch. Hoạt động quản lý được chỉ ra bằng chất lượng của việc tham gia vào chương trình phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ, sự hài lòng với các hướng dẫn viên giúp khách lập kế hoạch chuyến đi, số lượng các sự kiện đặc biệt có chất lượng.

Số liệu để đánh giá 4 chỉ số này sẽ được dựa trên dữ liệu thứ cấp và các dữ liệu sơ cấp. Khó khăn lớn nhất khi nghiên cứu đánh giá khả năng cạnh tranh là cần có một tập hợp dữ liệu chuẩn để có thể so sánh được giữa các nước trong khu vực. Việc tiến hành điều tra để thu thập một bộ dữ liệu hoàn chỉnh về vấn đề này còn chưa hoàn chỉnh với phạm vi của nghiên cứu. Do đó, tác giả chỉ  dựa vào những số liệu thứ cấp đã được sử dụng chủ yếu bởi các nghiên cứu quốc tế và các tổ chức phát triển khác. Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, khả năng cạnh tranh có thể được xem xét ở 3 cấp độ cạnh tranh khác nhau (cấp doanh nghiệp, cấp ngành quốc gia và cấp nền kinh tế quốc gia).

Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập cạnh tranh ở cấp ngành quốc gia (Mô hình Kim cương của Porter), cụ thể:

1) Chiến lược công ty, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh;

2) Các điều kiện cạnh tranh;

3) Các điều kiện cần;

4)  Các ngành bổ trợ và có liên quan.

Trong khuôn khổ phân tích mô hình cạnh tranh ngành quốc gia của Porter về các yếu tố có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của một ngành, các điều kiện về nguồn lực sẵn có là một trong bốn yếu tố xác định khả năng cạnh tranh của một ngành. Trong phần này sẽ đánh giá các nguồn lực có khả năng ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam trên cơ sở so sánh với một số đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực, như:  Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan. Số liệu sơ cấp thu được thông qua điều tra sẽ giúp hiểu được đánh giá của khách du lịch, dân cư, và các doanh nghiệp về khả năng cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam. Số liệu sơ cấp sẽ xem xét liệu đánh giá của khách du lịch, dân cư và các doanh nghiệp có được minh chứng bằng những con số cụ thể hay không.

Số liệu thu được từ bảng theo dõi khả năng cạnh tranh do Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) thực hiện có thể được sử dụng để đánh giá lợi thế so sánh của Việt Nam so với các nước trong khu vực. WTTC đã ghi lại số liệu về 8 tiêu chí, bao gồm: 1) Chỉ số nhân lực du lịch, 2) Chỉ số cạnh tranh giá, 3) Chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng, 4) Chỉ số môi trường, 5) Chỉ số về tiến bộ công nghệ, 6) Chỉ số về nguồn nhân lực, 7) Chỉ số thể chế và 8) Chỉ số về phát triển xã hội. Trừ các chỉ số về cạnh tranh giá, và chỉ số môi trường sẽ được sử dụng trong phần đánh giá về khả năng sử dụng nguồn lực, 6 chỉ số còn lại có thể được sử dụng để đánh giá lợi thế so sánh ngành Du lịch của các nước trong khu vực.

Bài viết sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu về khả năng cạnh tranh về lữ hành và du lịch của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) những năm gần đây để phân tích khả năng cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam vì báo cáo này được cộng đồng quốc tế quan tâm và hưởng ứng nhiều nhất. Báo cáo về năng lực cạnh tranh lữ hành và du lịch của WEF (The Travel and Tourism Competitiveness Report - TTCR) đã xác định lữ hành và du lịch là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của thế giới, chiếm 11,05% GDP của thế giới, cung cấp trên 250 - 350 triệu việc làm và chiếm gần 11,7% tổng số việc làm của thế giới. Tại các nước đang phát triển, tầm quan trọng của ngành Du lịch ngày càng được đề cao và mở rộng phát triển về nông thôn tạo công ăn việc làm cho người lao động. Báo cáo TTCR đã xem xét ngành kinh tế du lịch của 124 nước với 3 phạm trù lớn bao gồm: khung pháp lý (chính sách và luật pháp, các quy định về an ninh, an toàn, ưu tiên của chính phủ về phát triển du lịch); môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng (giao thông đường không, giao thông mặt đất, cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở hạ tầng thông tin và khả năng cạnh tranh về giá; nguồn lực về con người, văn hóa và nguồn lực tự nhiên (nguồn nhân lực, cảm nhận và nhận thức về du lịch quốc gia, nguồn lực tự nhiên và văn hóa).

Trước mắt, mối đe dọa xuất phát từ khả năng cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp du lịch lớn trong khu vực do tận dụng tính kinh tế nhờ quy mô được giảm nhẹ phần nào vì Việt Nam vẫn có khả năng cạnh tranh về giá cả. Khả năng cạnh tranh về giá của Việt Nam chủ yếu dựa trên cơ sở nền sản xuất nhỏ có giá cả thấp, thường là đặc trưng của các nước có thu nhập thấp. Ở Việt Nam, khách du lịch sẽ cần một lượng USD thấp hơn để mua cùng một giỏ hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, đối với các khoản chi phí chính liên quan tới du lịch, như phòng ngủ và vé máy bay, một khoản chi tiêu lớn nhất của khách du lịch, thì hai đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam là Malaysia và Thái Lan vẫn có mức giá cạnh tranh hơn. Mức độ cạnh tranh về giá phòng ngủ được xác định trên cơ sở chỉ số giá khách sạn. Thái Lan là nước cạnh tranh nhất về giá khách sạn trong khu vực. Một điểm đáng lưu ý, Thái Lan là nước hấp dẫn du lịch nhất trong khu vực, với thị phần lớn nhất. Mặc dù Việt Nam có những  mặt bằng giá cả chung thấp hơn Thái Lan, Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển vượt bậc trong thời gian tới dựa vào tài nguyên tự nhiên, an toàn và phòng chống tốt dịch bệnh.

3. Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Du lịch Việt Nam 

3.1. Đổi mới và không ngừng hoàn thiện khung pháp lý và các chính sách liên quan đến du lịch như chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, xuất nhập cảnh, hải quan theo hướng tạo mọi thuận lợi cho du khách

Rà soát lại toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật để phát hiện những bộ luật nào chồng chéo, mâu thuẫn thì hủy bỏ, đổi mới và không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý và các chính sách liên quan đến du lịch như tỷ giá hối đoái, chính sách đầu tư, từng bước nới lỏng chính sách thị thực một cách hợp lý phù hợp với những cam kết của Việt Nam khi Hội nhập quốc tế và Luật Đạo đức du lịch thế giới của UNWTO theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách.

3.2. Xây dựng chiến lược cạnh tranh điểm đến cả trung và dài hạn để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam như một điểm đến mới đầy hấp dẫn của khu vực và thế giới

Trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam tiến hành xây dựng chiến lược marketing cho du lịch Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035; trong đó xác định được những thị trường du lịch trọng điểm, với thế mạnh về đa dạng sinh học, địa hình, bản sắc văn hóa và truyền thống lịch sử oai hùng xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch theo hướng du lịch biển, du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa, lịch sử để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn du khách của những thị trường trọng điểm này.

3.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch để nâng cao tính chuyên nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ

Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ du lịch. Đó là đội ngũ lao động đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, cân đối, được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ, có  tính chuyên nghiệp cao, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề. Muốn vậy, Nhà nước cần tăng cường quản lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch, từng bước chuẩn hóa đội ngũ lao động ngành Du lịch trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề du lịch theo yêu cầu thực tế ở trong nước, phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, trước hết là bộ tiêu chuẩn nghề của Hiệp hội Du lịch ASEAN để tạo điều kiện hội nhập quốc tế của đội ngũ lao động du lịch. Do vậy, phải phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng với cơ sở vật chất tốt để đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo sự cân đối giữa các cấp, bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo và có sự phân bố hợp lý giữa các vùng miền; tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước nhất là dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do Ủy ban châu Âu tài trợ.

3.4. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch với nhiều hình thức huy động vốn khác nhau

Qua đánh giá năng lực cạnh tranh, cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam còn thiếu và kém chất lượng, nhất là thiếu trầm trọng các khách sạn cao cấp, các trung tâm hội nghị lớn, các trung tâm mua sắm, trung tâm vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch MICE (loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác... ; thiếu nhiều đường bay thẳng đến với các nước khiến chi phí máy bay cao hơn so với các nước trong khu vực. Nhà nước cần có nhiều cơ chế, chính sách để khuyến khích và thu hút vốn đầu tư khác nhau từ các thành phần kinh tế để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch.

3.5. Xây dựng và phát triển hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng và độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, đảm bảo phát triển du lịch bền vững

Du lịch Việt Nam rất đa dạng cả về tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nhân văn. Do phát triển thiếu quy hoạch và định hướng đã làm ảnh hưởng đến môi trường, phá vỡ tính gắn kết giữa tài nguyên nhân văn và tài nguyên thiên nhiên, đ làm mất đi những sản phẩm độc đáo và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. , Sản phẩm du lịch Việt Nam còn đơn điệu, mới chỉ đạt ở mức độ khai thác những gì sẵn có khiến du khách quốc tế cảm thấy nhàm chán. Điều này giải thích vì sao tỉ lệ du khách quốc tế trở lại lần thứ hai là rất thấp. Do vậy, xây dựng sản phẩm du lịch đa dạng và độc đáo, đảm bảo phát triển bền vững là nhân tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.

3.6.  Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu điểm đến và hoạt động xúc tiến du lịch trên thị trường du lịch thế giới

Việc này đòi hỏi phải thực hiện một cách hệ thống đồng bộ từ nghiên cứu thị trường, xây dựng sản phẩm, chương trình du lịch, xây dựng thương hiệu cho đến quảng bá sản phẩm. Cần thực hiện trên cơ sở phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa Tổng cục Du lịch, các sở văn hóa, thể thao và du lịch, các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn nói riêng và các Bộ, ban, ngành khác nói chung thì công tác xúc tiến và quảng bá du lịch mới có hiệu quả.

3.7. Các doanh nghiệp du lịch trong nước cần được đầu tư mạnh mẽ và áp dụng các công nghệ du lịch tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông vào hoạt động kinh doanh du lịch trực tuyến, tham gia vào các hệ thống phân phối chỗ toàn cầu (GDS) nhằm phục vụ hoạt động marketing, quảng bá sản phẩm và tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu trong du lịch.

Chỉ có sự chuẩn bị tích cực, chiến lược kinh doanh hợp lý, chủ động nắm cơ hội, hạn chế thách thức từ cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài thì các doanh nghiệp du lịch Việt Nam mới có khả năng tồn tại và phát triển. Cần tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực để học hỏi kinh nghiệm phát triển du lịch trong quá trình hội nhập. Trước mắt ưu tiên khắc phục những vấn đề về môi trường tại các điểm đến, đặc biệt tại các Di sản thế giới với việc thực hiện có hiệu quả các quy định về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. 

3.8. Cần chủ động liên minh chiến lược để đối phó với cạnh tranh từ doanh nghiệp lữ hành gửi khách nước ngoài

Chiến lược kinh doanh phù hợp trong giai đoạn tự do hóa thị trường du lịch quốc tế đối với doanh nghiệp du lịch lữ hành trong nước hiện nay là trở thành các đối tác, liên minh chiến lược của các hãng lữ hành lớn và nổi tiếng trên thế giới dưới hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác, tái cơ cấu tổ chức theo hướng linh hoạt. Điều này nhằm tận dụng nguồn khách và nghiệp vụ quản lý, điều hành du lịch tiên tiến của các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp lữ hành trong nước cần coi liên doanh với các công ty lữ hành nước ngoài là một con đường để thâm nhập thị trường và phát triển nguồn nhân lực. Để làm được điều này, các doanh nghiệp lữ  hành cũng phải tái cơ cấu tổ chức theo hướng tăng cường liên kết dọc và liên kết ngang trong mọi hoạt động. Cần vượt qua những rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, xây dựng một cơ chế phân chia lợi ích hợp lý hướng tới mục tiêu dài hạn. Chỉ có như vậy mới tạo ra được mối quan hệ tỷ lệ thuận lợi ích giữa các doanh nghiệp du lịch trong nước và các hãng lữ hành gửi khách nước ngoài. 

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN VÀ THAM KHẢO:

- Phạm Trung Lương (2014). Phát triển Du lịch việt nam trong bối cảnh hội nhập, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam.

- Phạm Hải Yến (2013), Năng lực canh tranh của doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong Hội nhập, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, Số 4 tháng 6/2013.

- Đỗ Văn Tình (2013). Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập kinh tế Quốc tế, Khoa QTKD Trường Đại học Duy Tân.

- Vũ Văn Phúc (2012), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO, NXB Chính trị quốc gia.

- Ngô Đức Anh (2007), 13 khả năng cạnh tranh và hướng phát triển, Tạp chí Du lịch, số 27/2007.Diễn đàn kinh tế thế giới, Báo cáo cạnh tranh toàn cầu.Viện nghiên cứu phát triển quản lý (IMD).

- Micheal Porter (2009), Chiến lược cạnh tranh, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

- Website Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Bài liên quan
Du lịch mạo hiểm: Những điểm không thể bỏ qua để đảm bảo an toàn cho du khách
Du lịch mạo hiểm: Những điểm không thể bỏ qua để đảm bảo an toàn cho du khách
20/01/2021 Nghiên cứu

Với một địa hình đồi núi, sông suối phức tạp như ở Việt Nam thì du lịch mạo hiểm cần được tổ chức một cách kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn, đồng thời có hướng đầu tư bài bản để thu hút du khách trong nước và quốc tế.

Lữ hành Việt Nam nỗ lực bứt phá vì một ‘ngày vui’ sớm trở lại
Lữ hành Việt Nam nỗ lực bứt phá vì một ‘ngày vui’ sớm trở lại
19/01/2021 Nghiên cứu

Lữ hành Việt đã vượt qua một năm đầy sóng gió với nhiều tổn thất. Để có thể tồn tại sau đại dịch, nhiều doanh nghiệp đã phải nỗ lực phi thường với một niềm tin vào ngày mai tươi sáng sớm trở lại.

Kịch bản phát triển nào cho Du lịch của TP. Hà Nội?
Kịch bản phát triển nào cho Du lịch của TP. Hà Nội?
19/01/2021 Kinh doanh

Ngành du lịch TP. Hà Nội kỳ vọng một kịch bản sớm phục hồi, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm sẵn sàng đón và phục vụ khách quốc tế khi điều kiện cho phép, đặt ra mục tiêu thu hút khách du lịch nội địa cho năm 2021 với mức 15,34 triệu lượt khách, bằng 70% so với năm 2019.

Đồng Nai: Để làng quê 'níu chân' du khách
Đồng Nai: Để làng quê 'níu chân' du khách
19/01/2021 Nghiên cứu

Vài năm gần đây, Đồng Nai rộ lên nhiều mô hình du lịch vườn, du lịch sinh thái… Trong quá trình xây dựng nông thôn mới (NTM), các địa phương chú trọng chuyển đổi sản xuất theo hướng an toàn; tạo môi trường thuận lợi cho nông dân, doanh nghiệp đầu tư, khai thác lợi thế du lịch ở các vùng quê.

Chông chênh chợ nổi Cái Răng
Chông chênh chợ nổi Cái Răng
17/01/2021 Nghiên cứu

Mặc dù điểm tham quan du lịch hấp dẫn và nổi tiếng nhất TP Cần Thơ đã được triển khai đề án bảo tồn và phát triển với hơn 60 tỷ đồng nhằm giữ lại một nét văn hóa đặc trưng vùng sông nước, vậy nhưng trên thực tế du khách vẫn không tránh khỏi cảm giác hụt hẫng khi đến nơi này…

Nhà sàn truyền thống - nơi “giữ lửa” văn hóa dân tộc Thái
Nhà sàn truyền thống - nơi “giữ lửa” văn hóa dân tộc Thái
16/01/2021 Nghiên cứu

Trong bối cảnh giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, vùng miền diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, thì việc bảo tồn, gìn giữ các nếp nhà sàn truyền thống, cũng có thể ví như việc góp phần “giữ lửa” bản sắc cho văn hóa dân tộc Thái.

Du lịch Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa
Du lịch Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa
16/01/2021 Nghiên cứu

Theo ông Võ Anh Tài, du lịch Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa, chú trọng nhiều hơn đến sức khỏe và vệ sinh, đồng thời làm tăng nhu cầu về trải nghiệm không tiếp xúc và các tùy chọn thanh toán.

Hội du lịch cộng đồng Việt Nam: Tăng cường liên kết, hỗ trợ nhau cùng vượt khó
Hội du lịch cộng đồng Việt Nam: Tăng cường liên kết, hỗ trợ nhau cùng vượt khó
15/01/2021 Nghiên cứu

Nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp du lịch được gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ cùng nhau vượt qua khó khăn sau đại dịch Covid-19 Hội du lịch cộng đồng Việt Nam (VCTC) vừa tổ chức chương trình khảo sát, bàn giải pháp cho “Trạng thái bình thường mới” năm 2021 tại Thái Nguyên.

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm kích thích nhu cầu ngoài yếu tố giảm giá
Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm kích thích nhu cầu ngoài yếu tố giảm giá
15/01/2021 Nghiên cứu

Theo ông Nguyễn Công Hoan, năm 2021 xác định vẫn là năm khó khăn của ngành du lịch thì vai trò của liên minh, liên kết kích cầu du lịch cần phải đi vào chiều sâu, thực chất hơn nữa.

Quản lý và kinh doanh lữ hành trong và sau Covid-19 ra sao?
Quản lý và kinh doanh lữ hành trong và sau Covid-19 ra sao?
14/01/2021 Nghiên cứu

Theo ông Thắng, Covid-19 đã ảnh hưởng và làm thay đổi mọi khía cạnh liên quan đến hoạt động du lịch, xu hướng đi du lịch của khách đã thay đổi. Do đó, các doanh nghiệp lữ hành quan tâm một số vấn đề du lịch bền vững, chuyển đổi số và thị trường...

Lữ hành Việt Nam 2021: Một số đề xuất giải pháp khắc phục của ngành du lịch do Covid-19
Lữ hành Việt Nam 2021: Một số đề xuất giải pháp khắc phục của ngành du lịch do Covid-19
13/01/2021 Nghiên cứu

Theo bà Nguyễn Thị Lê Hương - Phó TGĐ Công ty Vietravel, cần tiếp tục chính sách miễn giảm thuế phí cho các doanh nghiệp ngành du lịch trong năm 2021 và chính sách hỗ trợ tài chính cho vay ưu đãi để phục hồi hoạt động kinh doanh.

Lữ hành Việt Nam 2021: Làm thế nào để du lịch khắc phục nhanh hậu quả của dịch Covid-19?
Lữ hành Việt Nam 2021: Làm thế nào để du lịch khắc phục nhanh hậu quả của dịch Covid-19?
12/01/2021 Nghiên cứu

Đó là một vấn đề được ông Vũ Thế Bình - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt Nam đưa ra trong phần phát biểu của mình tại diễn đàn Lữ hành toàn quốc 2021 diễn ra chiều nay, ngày 12/1.

Diễn đàn 'Lữ hành Việt Nam 2021 - Giải pháp khôi phục và phát triển'
Diễn đàn "Lữ hành Việt Nam 2021 - Giải pháp khôi phục và phát triển"
11/01/2021 Nghiên cứu

Từ ngày 12 - 13/1 tại Flamingo Cát Bà Beach Resort (Cát Bà, Hải Phòng), Hiệp hội Lữ hành Việt Nam phối hợp với Sở Du lịch Hải Phòng, UBND huyện Cát Hải tổ chức Diễn đàn “Lữ hành Việt Nam 2021 - Giải pháp khôi phục và phát triển” và Gala “VISTA - Vững bước thành công”.

Bắc Giang phát triển du lịch trong bối cảnh ứng phó với dịch COVID-19
Bắc Giang phát triển du lịch trong bối cảnh ứng phó với dịch COVID-19
11/01/2021 Nghiên cứu

Theo Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang Trần Minh Hà, thời gian tới, tỉnh tập trung thực hiện nhiều giải pháp khai thác, phát huy tiềm năng, phát triển ngành du lịch, chủ động ứng phó với dịch bệnh COVID-19; phấn đấu lượng khách du lịch đến tỉnh đạt 3 triệu lượt vào năm 2025.

Đào tạo nhân lực nhìn từ sự gắn bó văn hóa với du lịch
Đào tạo nhân lực nhìn từ sự gắn bó văn hóa với du lịch
10/01/2021 Nghiên cứu

Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương.

Sóc Trăng phát triển du lịch cộng đồng
Sóc Trăng phát triển du lịch cộng đồng
09/01/2021 Nghiên cứu

Sóc Trăng có vị trí địa lý thuận lợi là ở gần các trung tâm du lịch vùng Nam Bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Côn Đảo và sở hữu nhiều tiềm năng về du lịch.

Cần đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới
Cần đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới
08/01/2021 Nghiên cứu

Đó là ý kiến đánh giá và chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại Hội nghị trực tuyến Tổng kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 diễn ra sáng nay, 8/1.

Kinh tế ban đêm - Bài 3: “Khoảng trống” kinh tế ban đêm - Câu chuyện nhìn từ Đà Nẵng
Kinh tế ban đêm - Bài 3: “Khoảng trống” kinh tế ban đêm - Câu chuyện nhìn từ Đà Nẵng
08/01/2021 Nghiên cứu

Theo báo cáo của UBND thành phố Đà Nẵng, trong sáu tháng đầu năm 2019, tổng doanh thu du lịch ước đạt hơn 14,97 tỷ đồng (tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2018).

Kinh tế ban đêm - Bài 2: Việt Nam đang bỏ qua nguồn lợi khổng lồ
Kinh tế ban đêm - Bài 2: Việt Nam đang bỏ qua nguồn lợi khổng lồ
07/01/2021 Nghiên cứu

Nếu nhìn vào cách New York, Sydney hay London đang khai thác kinh tế ban đêm, có thể thấy nhiều thành phố du lịch của chúng ta đang “làm ngơ trước đống vàng”.