Thứ sáu, 25/12/2020, 18:55 PM
  • Click để copy

Phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường (P.1)

Theo nhóm tác giả do ông Trương Sỹ Vinh đứng đầu, từ việc đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn có thể đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

Lời giới thiệu: Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu, điểm du lịch nhằm xác định mức độ ô nhiễm và khả năng tự phục hồi của môi trường tự nhiên cũng như khả năng đáp ứng của môi trường kinh tế – xã hội. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về đánh giá sức chịu tải của môi trường tại các khu, điểm du lịch với các tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mỗi khu, điểm du lịch có đặc điểm khác nhau về tính chất tài nguyên, phạm vi và khả năng khai thác cũng như điều kiện về kinh tế – xã hội… do vậy, quá trình đánh giá cần lựa chọn các phương pháp tính toán phù hợp. 

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết: "Đánh giá sức chịu tải môi trường của khu du lịch biển Sầm Sơn" của nhóm tác giả Trương Sỹ Vinh - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Lê Thanh Xuân-  Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dư Văn Toán - Viện nghiên cứu biển và hải đảo, Nguyễn Thùy Vân - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch.

Theo nhóm tác giả, nghiên cứu này áp dụng các phương pháp tính toán đã có để đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

bien-sam-son

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, hoạt động du lịch đã đem lại nhiều kết quả to lớn, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Năm 2017, Việt Nam được Tổ chức Du lịch Thế giới xếp thứ 6 trong 10 điểm du lịch có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới và đứng đầu châu Á.

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 2019, Việt Nam đón khoảng 18 triệu khách quốc tế tăng 16% so với năm 2018, đồng thời phục vụ 85 triệu khách nội địa tăng 6.3% so với năm 2018.

Du lịch phát triển đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, tăng thu nhập đầu người, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện giao lưu văn hoá và hội nhập với khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã gây ra những hệ lụy nhất định đến môi trường tự nhiên. Sự tăng trưởng cao của lượng khách du lịch cùng với xu hướng du lịch đại trà và tính thời vụ của hoạt động du lịch tại Việt Nam giai đoạn vừa qua đã dẫn đến nhiều khu, điểm du lịch bị quá tải trong sử dụng hạ tầng; không đủ năng lực thu gom và xử lý rác thải, nước thải; không kiểm soát tốt những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái.

Đối với môi trường xã hội, du lịch phát triển làm gia tăng các tệ nạn xã hội, văn hoá truyền thống của địa phương bị thay đổi. Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể bị xâm hại hoặc thay đổi tính nguyên bản của di sản để phục vụ lượng khách du lịch ngày càng nhiều.

Tất cả những vấn đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển bền vững của du lịch Việt nam nói chung và hình ảnh của du lịch Việt Nam trong mắt khách du lịch quốc tế. Việc khai thác du lịch vượt quá sức chịu tải môi trường (SCTMT) sẽ gây ra những ảnh hưởng, đôi khi không thể khắc phục được.Ở góc độ ngành du lịch, môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Do vậy, khả năng chịu tải của môi trường tại khu, điểm du lịch cần được tiếp cận đầy đủ ở cả hai khía cạnh về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra thuật ngữ sức chịu tải về môi trường: “SCTMT đối với khu, điểm du lịch là khả năng đáp ứng lượng khách tối đa trong không gian khu điểm du lịch và trong phạm vi giới hạn chịu đựng của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại khu, điểm đó”.

Khả năng đáp ứng lượng khách tối đa trong không gian khu điểm du lịch còn gọi là sức chiụ tải của không gian tài nguyên, là số khách du lịch tối đa mà các không gian dành cho hoạt động du lịch của khu, điểm du lịch có thể tải được.

Giới hạn chịu đựng của môi trường tự nhiên là giới hạn chịu đựng của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, hệ sinh thái và đa dạng sinh học…) tại khu, điểm du lịch đối với số lượng khách du lịch tối đa mà môi trường vẫn có thể tự phục hồi.

Giới hạn chịu đựng của môi trường xã hội là giới hạn chịu đựng của hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội (hạ tầng cấp nước, hạ tầng môi trường, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch,…) để đáp ứng tối đa số lượng khách đến khu, điểm du lịch mà vẫn đảm bảo sự hài lòng của cộng đồng địa phương và khách du lịch.Sức chịu tải môi trường là căn cứ để quản lý và kiểm soát nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động du lịch gây ra.

Đây là nội dung hết sức cần thiết và cần thực hiện sớm trước khi triển khai các quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển du lịch.Khu du lịch biển Sầm Sơn nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 16 km. Sầm Sơn có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Với hệ thống bãi biển đẹp (A, B, C, D) kéo dài 3.5 km, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát mịn, nước trong xanh có nồng độ muối dưới 30%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh… rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí nên từ lâu đã là khu nghỉ mát nổi tiếng của cả nước.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, với tốc độ phát triển nhanh, trong khi khả năng đáp ứng về hạ tầng cấp nước, xử lý môi trường và hệ thống cơ sở vật chất chưa theo kịp đã gây ra hiện tượng quá tải khách du lịch vào mùa cao điểm gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của khách du lịch.

Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn nhằm xác định mức độ vượt tải về không gian du lịch, môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội tại Sầm Sơn. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng sức chịu tải đồng thời phát triển du lịch nằm trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các thông tin, tư liệu cần thiết trên cơ sở kế thừa các số liệu, công trình nghiên cứu, số liệu điều tra cơ bản đã có để tổng hợp, phân tích phục vụ quá trình đánh giá.Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát thực địa nhằm xác định các nguồn thải; đánh giá, nhận định thực tế về khả năng chịu tải môi trường của khu du lịch Sẩm Sơn

.Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra xã hội học về mức độ chấp nhận của cộng đồng địa phương và sự hài lòng của khách du lịch về môi trường tự nhiên, xã hội và số lượng khách du lịch và mùa cao điểm.

Phương pháp đánh giá, tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng được tổng hợp từ phương pháp trên thông qua kết quả điều tra thực địa, kết quả phân tích các tài liệu thu thập, báo cáo điều tra, các bản đồ chuyên đề… để đánh giá sức chịu tải môi trường và đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch trong giới hạn của sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1. Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch và hiện trạng môi trường tại Sầm Sơn

1.1. Hiện trạng phát triển du lịch tại Sầm Sơn

a. Khách du lịch

Giai đoạn 2015 – 2019, khách du lịch đến Sầm Sơn tăng trưởng đều, ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt 5,04%. Năm 2015, Sầm Sơn phục vu 4.066.100 lượt khách lưu trú, đến năm 2019, số lượt khách lưu trú đạt 4.950.000 lượt, tăng gần 100.000 lượt so với năm 2015. Khách du lịch đến với Sầm Sơn chủ yếu là khách nội địa, chiếm 99,2%, cơ cấu khách đến Sầm Sơn chủ yếu là từ thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đi theo đoàn do các công ty lữ hành tổ chức, tuy nhiên, những năm gần đây, khách quốc tế đến Sầm Sơn không ngừng gia tăng với tốc độ khá cao đạt 9.6%, cao hơn so với mức tăng trưởng tổng lượng khách trung bình/năm. Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch đến Sầm Sơn đạt 1.9 ngày.

Bảng 1.1: Hiện trạng khách du lịch lưu trú tại Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019

Bảng 1.1: Hiện trạng khách du lịch lưu trú tại Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019

So với toàn tỉnh, trong tổng số hơn 9 triệu lượt khách du lịch đến Thanh Hóa mỗi năm, khách du lịch đến Sầm Sơn chiếm trên 50%. Dự báo trong thời gian tới, với nhiều dự án đầu tư du lịch cao cấp của các tập đoàn lớn như FLC, Sun Group…, lượng khách du lịch đến Sầm Sơn sẽ có mức tăng trưởng mạnh và thu hút được nhiều khách quốc tế.

b. Tổng thu từ du lịch

Giai đoạn 2015 – 2019, tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn tăng trưởng rất nhanh, đạt trung bình 29%/năm. Năm 2015, tổng thu từ du lịch đạt 3.450.000 tỷ đồng, năm 2019 đạt 7.920.000 tỷ đồng, tăng gần 2,3 lần.

Bảng 1.2: Tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019. Đơn vị: Triệu đồng

Bảng 1.2: Tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019. Đơn vị: Triệu đồng

So sánh với Thanh Hóa, tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn có tốc độ tăng trưởng bình quân cao hơn gấp 1.8 lần. Giai đoạn 2015 – 2019, tổng thu từ du lịch Sầm Sơn đạt 26.410 tỷ đồng, chiếm 59% toàn tỉnh.

1.2. Hiện trạng môi trường khu du lịch Sầm Sơn

a. Môi trường đất

Theo kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Thanh Hóa, hàm lượng các kim loại nặng (As, Cd, Cu, Pd, Zn) nằm trong QCVN 03:2008/BTNMT, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật có giá trị thấp và nằm trong giới hạn so với QCVN 15:2008/BTNMT, các thông số quan trắc có sự biến động không đáng kể giữa các năm.

b. Môi trường nước

Nước thải tại Sầm Sơm chủ yếu là nước thải sinh hoạt của người dân và nước thải từ hoạt động du lịch. Ngoài ra, còn có một phần nước thải từ quá trình sản xuất công nghiệp chế biến thủy, hải sản, hoạt động vận tải đường thủy, nước mưa chảy tràn…

Theo kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Thanh Hóa, chất lượng môi trường nước mặt, nước ngầm và nước biển ven bờ tại Sầm Sơn đã có dấu hiệu ô nhiễm tại một số thời điểm. Về chất lượng nước biển ven bờ khu vực gần các bãi tắm, thông số về hàm lượng Asen (As) và Xyanua (CN) vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép theo QCVN 10-MT: 2015/BTNMT. Bên cạnh đó, hàm lượng oxy hòa tan (DO) và pH của nước biển thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, hiện tượng này không duy trì liên tục và chỉ ô nhiễm cục bộ tại một số thời điểm.

Bảng 1.3: Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ khu du lịch biển Sầm Sơn.

Bảng 1.3: Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ khu du lịch biển Sầm Sơn.

c. Môi trường không khí

Kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa cho thấy, nhìn chung chất lượng môi trường không khí tại Sầm Sơn khá tốt, hầu hết các chỉ tiêu đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.

2. Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn

2.1. Sức chịu tải không gian du lịch

Sức chịu tải của không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn được tính toán theo công thức của Boullón (1985).

TCC = RT/PCC

Trong đó:

– TCC: Sức chịu tải của không gian tài nguyên

– RT: Số lượt khách thực tế

– PCC: Số lượt khách tiêu chuẩn (PCC = A/D)

– A là tổng diện tích khu vực tắm biển (m2)

– D là diện tích tiêu chuẩn cho 1 khách (m2/người)

Nếu chỉ số TCC = 1 (sức tải = 100%) đã chạm ngưỡng chịu tải; TCC < 1 (sức tải <100%) nằm trong giới hạn chịu tải cho phép, và TCC > 1 (sức tải >100%) đã vượt quá sức chịu tải.Khu vực biển Sầm Sơn gồm 04 bãi tắm: A, B, C, D với tổng chiều dài 3.500 m, chiều rộng 200 m, trong đó khu vực có khả năng tắm biển chiếm khoảng 80% (20% còn lại là khu vực khai thác dịch vụ, chuyển giao địa hình và neo đậu thuyền bè của ngư dân). Bãi biển Sầm Sơn được xác định là bãi bãi tắm công cộng, bình dân, do vậy tiêu chuẩn không gian của mỗi khách du lịch tắm biển tại Sầm Sơn (Fred Lawson, Manuel Baud Bovy và ESCAP, 1997) khoảng 15 – 20 m2.

Theo số liệu thống kê của UBND thành phố Sầm Sơn, 60% khách du lịch đến với Sầm Sơn tập trung vào các ngày cuối tuần của 6 tháng mùa nóng, tương đương với 52 ngày, như vậy vào dịp cao điểm Sầm Sơn đón 57.115 lượt/ngày.

Bảng 2.1: Sức chịu tải không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn.

Bảng 2.1: Sức chịu tải không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn.

Theo bảng 1.5: Vào những ngày thường, TCC = 0.42 (42%) < 1, bãi tắm Sầm Sơn chưa vượt quá sức chịu tải; Vào mùa cao điểm, TCC = 1.78 (178%) > 1, bãi tắm Sầm Sơn đã vượt quá sức chịu tải về không gian 1.78 lần. Việc vượt quá sức chịu tải về không gian tắm biển đã làm ảnh hưởng đến chất lượng trải nghiệm của khách du lịch, thay vì mỗi khách du lịch có khoảng 17.5 m2 để tắm biển thì vào mùa cao điểm trung bình mỗi khách chỉ còn 9.8 m2. Trên thực tế, vào ngày cao điểm nhất (dịp 30/4 – 1/5, năm 2019), số lượt khách đến Sầm Sơn đạt 146.000 lượt khách/ngày, vượt quá sức tải về không gian 4.56 lần, tuy nhiên hiện tượng này không diễn ra thường xuyên.

(còn nữa)

Bài liên quan
Thành tựu du lịch trong 10 năm qua ở tỉnh Ninh Thuận
Thành tựu du lịch trong 10 năm qua ở tỉnh Ninh Thuận
14/06/2021 Thống kê

Trong một thập kỉ qua (xét từ giai đoạn 2011 - 2019), tỉnh Ninh Thuận đã đạt được những thành tựu đáng kể nào về du lịch?

Du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới phân tích SWOT (2)
Du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới phân tích SWOT (2)
13/06/2021 Thống kê

Tiếp nối bài trước, bài viết sau tiếp tục phân tích du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới 2 góc độ tiếp theo: Cơ hội và thách thức mà tỉnh đang đối diện.

Du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới phân tích SWOT (1)
Du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới phân tích SWOT (1)
12/06/2021 Thống kê

Du lịch tỉnh Ninh Thuận dưới 4 góc độ: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức từ phân tích SWOT của CBRE Việt Nam.

Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Mỹ
Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Mỹ
11/06/2021 Thống kê

Cần chú ý gì về đặc điểm tâm lý của khách du lịch Mỹ là gì? Bạn có biết, trong số khách đến từ châu Mỹ quý đầu 2020, nhóm khách đến từ Hoa Kỳ chiếm hơn 70%?

Triển vọng phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận
Triển vọng phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận
11/06/2021 Thống kê

Thị trường du lịch tỉnh Ninh Thuận tuy còn khá mới mẻ nhưng với tiềm lực sẵn có, tỉnh đặt mục tiêu sẽ đón 3,5 triệu lượt khách đến vào năm năm 2025.

Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Thái Lan
Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Thái Lan
10/06/2021 Thống kê

Những người bạn "láng giềng" Thái Lan có đặc điểm, nhu cầu gì trong những chuyến đi? Cùng chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Thái Lan sau đây.

Vai trò của bản sắc tự nhiên và văn hóa với du lịch tỉnh ninh thuận
Vai trò của bản sắc tự nhiên và văn hóa với du lịch tỉnh ninh thuận
10/06/2021 Thống kê

“Thị trường ngách” trên bản đồ du lịch Việt Nam - tỉnh Ninh Thuận - là vùng đất hội tụ đầy đủ lợi thế để phát triển du lịch trải nghiệm.

Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Nhật Bản hiện đại
Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Nhật Bản hiện đại
09/06/2021 Thống kê

Đặc điểm tâm lý của khách du lịch Nhật Bản là gì? Yếu tố nào sẽ thu hút được nhóm du khách này đến Việt Nam nhiều hơn trong tương lai?

Nguyên nhân Mỹ kết luận COVID-19 bùng phát từ phòng thí nghiệm Vũ Hán
Nguyên nhân Mỹ kết luận COVID-19 bùng phát từ phòng thí nghiệm Vũ Hán
09/06/2021 Nghiên cứu

Không chỉ là nghi ngờ, cơ quan nghiên cứu của Mỹ đã chính thức kết luận virus SARS-CoV-2 bị rò rỉ từ phòng thí nghiệm Vũ Hán, Trung Quốc.

Du lịch tỉnh Ninh  Thuận cần tăng tốc để tạo dấu ấn riêng
Du lịch tỉnh Ninh Thuận cần tăng tốc để tạo dấu ấn riêng
09/06/2021 Thống kê

Bài viết sau sẽ đưa ra những thông tin tổng quan về tỉnh Ninh Thuận cũng như các số liệu thống kê liên quan đến du lịch tại 4 đỉnh của "tứ giác du lịch"

Du lịch Quỳnh Nhai: Đánh thức vẻ đẹp sơn thủy vùng Tây Bắc
Du lịch Quỳnh Nhai: Đánh thức vẻ đẹp sơn thủy vùng Tây Bắc
09/06/2021 Nghiên cứu

Được ví như "vịnh Hạ Long" của vùng Tây Bắc, khu du lịch sinh thái Quỳnh Nhai (một phần của hồ thủy điện Sơn La) có nhiều tiềm năng để thu hút du khách bởi vẻ đẹp thơ mộng, hữu tình.

Tỉnh Bình Thuận dự kiến đón thêm 1.000 phòng khách sạn 4 - 5 sao trong năm 2021
Tỉnh Bình Thuận dự kiến đón thêm 1.000 phòng khách sạn 4 - 5 sao trong năm 2021
08/06/2021 Thống kê

Từ năm 2022 trở đi, nguồn cung khách sạn thuộc phân khúc 4-5 sao ở tỉnh Bình Thuận dự kiến tăng mạnh với các dự án quy mô lớn.

Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Hàn Quốc
Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch Hàn Quốc
07/06/2021 Thống kê

Hàn Quốc là thị trường khách chiếm tỉ trọng cao trong nhóm khách châu Á đến Việt Nam. Vì thế, người làm du lịch cần nắm được đặc điểm tâm lý của khách du lịch Hàn Quốc.

Các chuyên gia thế giới nói về xu hướng nhà hàng năm 2021-2022
Các chuyên gia thế giới nói về xu hướng nhà hàng năm 2021-2022
07/06/2021 Thống kê

Xu hướng nhà hàng năm 2021-2022 tập trung vào các loại hình nhà hàng phát triển mạng mảng giao hàng, đặt hàng trực tuyến và áp dụng công nghệ robot vào quá trình

Tỉnh Bình Thuận kì vọng đón thêm 15 triệu lượt khách du lịch trong 10 năm tới
Tỉnh Bình Thuận kì vọng đón thêm 15 triệu lượt khách du lịch trong 10 năm tới
07/06/2021 Thống kê

Nếu sân bay Phan Thiết đi vào hoạt động với công suất lên tới 2.000.000 lượt khách/năm, kịch bản khách du lịch đến tỉnh Bình Thuận sẽ có thay đổi theo hướng tích cực.

Hỡi người trẻ: Hãy quan tâm và bảo vệ môi trường
Hỡi người trẻ: Hãy quan tâm và bảo vệ môi trường
06/06/2021 Nghiên cứu

Hỏi: Cháu rất quan tâm đến môi trường. Có phải con người đang tự hủy hoại môi trường sống của mình không ạ?

Một số dự án phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch tỉnh Bình Thuận
Một số dự án phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch tỉnh Bình Thuận
06/06/2021 Thống kê

Theo báo cáo cho thấy 'du lịch tỉnh Bình Thuận chỉ thực sự cất cánh khi hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ hơn".

Zen Travel: Bạn biết gì về du lịch thiền?
Zen Travel: Bạn biết gì về du lịch thiền?
05/06/2021 Nghiên cứu

Khoảng 10 năm nay, triết lý sống và tư duy thiền đang trở thành một trào lưu lan tỏa rộng tại một số nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á. Điều này gợi mở một hướng mới giúp du lịch Việt Nam có thể làm gia tăng tính hấp dẫn của các điểm đến. Nhưng bạn hiểu gì về du lịch thiền?

Tỉnh Bình Thuận nên phát triển đa dạng các loại hình du lịch nào?
Tỉnh Bình Thuận nên phát triển đa dạng các loại hình du lịch nào?
05/06/2021 Thống kê

Theo định hướng phát triển du lịch tầm nhìn đến 2030, tỉnh Bình Thuận phấn đấu thu hút được 11 triệu lượt khách vào năm 2025, trong đó có từ 1,1-1,3 triệu khách quốc tế.